Bài mới nhất
(Xem: 73)
SANTA ANA, California (NV) – Sáng hôm Chủ Nhật, 8 Tháng Tư, Ban Trị Sự Phật Giáo Hòa Hảo Nam California đã tổ chức lễ kỷ niệm “Ngày Đức Thầy vắng mặt” tại trụ sở Ban Trị Sự Phật Giáo Hòa Hảo (PGHH), Nam California trên đường Mc Fadden, thành phố Santa Ana.
(Xem: 280)
Châu Lang: Quyển Kim Cổ Kỳ Quan là phẩm kinh chín bổn được Ông Ba Nguyễn Văn Thới sáng tác, chia thành hai đợt trong vòng 12 năm, (từ 1907 đến 1919) viết cách nay trên dưới 100 năm.
(Xem: 425)
Nguyễn Văn Lía: Xưa Đức Phật từng bảo : “Nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật Tánh”. Nghĩa là tất cả chúng sanh đều có tánh Phật. Hiểu như thế nên có người hỏi: Như vậy tại sao chúng sanh chẳng thành Phật ?
(Xem: 644)
Lê Minh Triết: Gần ngót một thế kỷ trôi qua, ngày 25 tháng 11 năm Kỷ Mùi 1919, tại làng Hòa Hảo, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc, bổng xuất hiện một vị Phật từ Phật quốc lâm phàm, thế danh Ngài là Huỳnh Phú Sổ, thân sinh của Ngài là Đức Ông Huỳnh Công Bộ và Đức Bà Lê Thị Nhậm.
(Xem: 441)
Sáng Chủ Nhật, 14 Tháng Giêng, nhiều quan khách, đạo hữu và đồng hương đến tham dự Đại Lễ Đản Sanh Đức Huỳnh Giáo Chủ, do Ban Trị Sự Phật Giáo Hòa Hảo Miền Nam California tổ chức tại hội quán ở Santa Ana, thuộc miền Nam California.

VIẾNG THĂM MỘ PHẦN BA PHỤ NỮ TIỀN BỐI

17 Tháng Hai 20179:52 CH(Xem: 2354)

Vieng Mo Nam Co Ky Giai Sau Nhan

 Trích Hoa Hao Le

 

Chương trình ĐIẾU VIẾNG những người có công to với đạo, hy sinh vì đạo PGHH cuối năm Bính Thân để qua Đinh Dậu 2017, chúng tôi được đồng đạo Nguyễn văn Lía đề cử ra tỉnh Bình Dương viếng mồ linh của ba nữ đồng đạo bậc tiền bối rất có công với đạo và được học đạo trực tiếp với Đức Thầy. Chúng tôi gồm 9 người đi từ 4 tỉnh: Nguyễn Quí Giới, đồng đạo Yên từ tỉnh Đồng Tháp, Nguyễn Ngọc Tân, đồng đạo Luốt đến từ tỉnh Vĩnh Long và một đồng đạo không biết họ tên đến từ thành phố Cần Thơ, Nguyễn Thanh Triết, Nguyễn thị Thùa, Bùi Minh Luân và tôi đến từ tỉnh An Giang.

Ba ngôi mộ của ba vị nữ tiền bối có công với đạo, đáng được vinh danh:

1. Bà Triệu thị Vạng, pháp danh Diệu Giác, đồng đạo thường nhắc tên bà là Bà Ký Giỏi, bia mộ đề: sinh năm 1879, từ trần 1987.

2, Bà Nguyễn thị Anh, tức Bà Năm Cò, mộ bia đề: sanh năm 1900, mệnh chung ngày 10-12- 1967.

3, Bà Nguyễn thị Nhạn, pháp danh Như Hương, bia mộ ghi: Sanh ngày 01-03-1912 (Tân Hợi) từ trần ngày 22-04-1991(nhằm 08-03- năm Tân Mão).

 Vieng Mo Ba Ba

 

1. Mộ phần của bà Ký Giỏi Triệu thị Vạng, người tín đồ PGHH phần đông đều biết, khi Đức Thầy bị nhà đương cuộc Pháp buộc sống lưu cư, có ở nhà Ông Bà Ký Giỏi. Bà Ký quy y với Đức Thầy lúc Ngài còn ở làng Hòa Hảo, nên khi Đức Thầy bị đưa về nhà Ông Bà Ký để cho Ông bà nầy dòm ngó tiếp bởi dầu sao Ông đây cũng làm việc ở soái phủ Nam Kỳ. Bà Ký rất mừng được ở cận bên Thầy để học thêm đạo đức, dỉ nhiên, sự lo lắng cho Đức Thầy là điều rất cần thiết đối với bà. Chúng ta hậu sanh, không cùng thời để tạo phúc đức qua những công việc ấy và học đạo từ chính kim khẩu của Ngài nói ra; ta chỉ còn đọc, học tu qua các bài viết giảng của Đức Thầy do các đồng đạo tiền bối bảo quản, những câu chuyện đạo đức có liên quan đến Ngài và tín đồ lớp trưởng thượng, ví dụ như câu chuyện bà Ký Giỏi lặn lội dặm tràng tìm Thầy học đạo làm nổi bật ý nghĩa Đức Thầy là cổ Phật lâm phàm đúng như trong Sấm Giảng Giáo Lý nói:

“Thiên Trước tòa sen có chỗ ngồi…Sao chẳng ngồi nơi ngôi vị hưởng quả bồ đề trường thọ mà còn len lỏi xuống chốn hồng trần đặng chịu cảnh chê khen”.

Tại ngôi mộ, trên tấm bia để di ảnh Bà, hai bên liên cận có trích ghi 4 câu thơ trong bài “Cho Cô Ký Giỏi Ở Bạc Liêu” như sau:

“Cô hai cô đã đi về,

Mà sao tâm-não nhiều bề ưu-tư.

làm sao gở mối sầu tư,

cho Thầy cho bạn cũng như cho mình”.

Xem lại, Bà Ký người ở Bạc Liêu, nhưng bài viết không phải sáng tác vào những năm 1941- 1942 lúc Đức Thầy ở Bạc Liêu mà là viết từ Sài Gòn năm 1944. Bà Ký một tín đồ trung kiên đã đi từ Bạc Liêu ra Sài Gòn thăm kính Thầy, tâm tư của bà được Đức Thầy mô tả hình dáng đáng ghi nhận người có lòng lo cho đạo, Đức Thầy, bạn và mình: “Cô hai cô đã đi về, mà sao tâm não nhiều bề ưu tư”, do từ “cô đã đi về” bằng “Tâm não nhiều bề ưu tư”, cuộc diện từ đâu đến và đi về đâu ta hiểu rõ. Ưu tư của bà phải chăng là toan tính cách nào gở ách thống trị của thực dân, để Đức Thầy tự do đi lại truyền đạo cứu đời và bạn bè cũng như mình vui vẻ đến lễ kính học hỏi đạo đức từ kim khẩu của Đức Thầy.

Bà Ký Triệu thị Vạng thuộc hàng danh gia vọng tộc, lại có tấm chồng làm ở soái phủ Nam Kỳ, danh phận trong xã hội như thế mà lúc Ông Ký qua đời, chôn cất Ông, thân nhân đã dành cho bà Ký một chỗ khi bà mãn phúc sẽ được nằm liên cận bên chồng. Thế sao Bà Ký Triệu thị Vạng lại chết chôn ở Bình Dương? Sự thắc mắc nầy ta chờ hỏi những mấu chốt có liên quan đến bà sáu Nguyễn thị Nhạn.

Nguyen Thi Nhan

2. Bà Nguyễn Thị Nhạn, pháp danh Như Hương sanh 01-03-1912, từ trần ngày 22-04-1991. Bà là người được Đức Thầy tin cậy và chỉ định lo lắng giúp đở cho bà Ký. Hôm đầu năm nay chúng tôi đi công chuyện ở tỉnh Bạc Liêu có gặp vài đồng đạo ở vùng nầy giới thiệu về khu mộ của Ông Ký Giỏi, quý vị nói rằng, quý vị đã tìm ra khu mộ từ trong đám rừng rậm, là chỗ cư ngụ cho những tên giang hồ phiêu bạt. Quý đồng đạo nói trên đã chặt cây, cuốc giãy cỏ và cào hốt những manh chiếu rách, mùn mền giẻ rách, óng kim chít và nhiều thứ nhơ uế khác. Nghe nói như vậy, tôi liền nhờ quý vị hướng dẫn chúng tôi đến đó.

Khu mộ rộng, xem rất là bề thế gồm gia tộc của họ Triệu, Ông Ký là rễ được chôn cất trong khu nầy, mộ của Ông cận liền có một vuông xây viền rào để sẵn, chờ lúc bà Ký trăm tuổi già đến đây mà an nghỉ. Tin bà Ký đã chết hồi năm 1987 mà sao cái huyệt nầy còn để trống vậy thì người ta đã chôn bà ở đâu? Tôi nhờ quý đồng đạo dẫn đi gặp những thân nhân bà Ký. Chúng tôi đến một ngôi nhà ngói xưa, gặp một bà khoảng 80 tuổi là cháu gái của bà Ký, kêu bà Triệu thị Vạng bằng dì tôi hỏi nguyên do nào bà Ký không được chôn chỗ gia tộc họ Triệu đã chừa sẵn chỗ? Cháu gái của bà Ký trả lời bằng kể một câu chuyện như sau: Lúc Đức Thầy bị Pháp dời đến ở nhà của dì tôi, có cô sáu Nguyễn thị Nhạn từ Sài Gòn len lỏi vào nhà dì tôi kính viếng Đức Thầy. Xong phần kính viếng, bà hỏi học đạo lý nơi Đức Thầy, sau đó Đức Thầy nói với cô Sáu Nhạn rằng: Nữa sau tôi nhờ bà chăm sóc, giúp đở bà Ký. Bà Sáu Nhạn đáp nhanh: Kính bạch Thầy, con từ Sài Gòn vào thăm chứ đâu phải người trong đây mà Thầy kêu con chăm sóc giúp đở bà Ký. Đức Thầy không giải thích, nhưng ở chỗ huyền vi, lời của Ngài phát ra cho Bà Sáu Nhạn là một tiếng lệnh phải thi hành. Nên dì tôi những năm tháng cuối đời phải đến nương thân dưỡng bệnh ở nhà bà Sáu Nhạn, chết chôn tại đó.

Biến cố 30-4-1975 những nhàu giàu có và bề thế như nhà Ông bà Ký Giỏi làm sao còn được ở yên. Nhà cửa đất đay bị lấy, Bà Ký phải sống cuộc đời vô gia cư, còn đi đứng vững vàng thì đi gieo duyên đây đó, lúc bệnh hoạn hết sức lực thiên cơ đã đưa bà về chỗ Đức Thầy đã đặt trước, để cho bà Sáu Nhạn thi hành đúng lệnh Thầy ban. Mầu nhiệm thay kim khẩu của Đức Thầy nói nhờ bà Sáu Nhạn giúp đở chăm sóc cho bà Ký, dù trước kia bà Sáu Nhạn không tin là sự thật, thì những năm cuối đời, bà Ký già yếu bệnh tật, hết đi làm đạo được đã về với bà Sáu tại Bình Dương nầy.

Nguyen Thi Anh Nam Co

3. Bà Nguyễn thị Anh tức bà Năm Cò sanh năm 1900, mệnh chung ngày 10-12-1967. Ra đây tôi mới biết, cứ tưởng bà Năm Cò là tên tự ai ngờ là tên hiệu, tên thật của bà là Nguyễn thị Anh. Lúc đầu tôi hấp tấp tưởng bà Nguyễn thị Anh là ai chớ, chừng đọc thấy 8 câu thơ đề trên bia mộ “Ngọn gió thiền môn cuống bụi hồng, lợi danh hai chữ mắt lờ trông…” bài nầy Đức Thầy viết tặng cho bà Năm Cò đâu phải Nguyễn thị Anh. Sự thắc mắc của tôi được người giữ mộ là cháu kêu bằng bà cho biết: Bà tôi tên thật là Anh nhưng vợ của Ông Cò người Pháp…

Thôi tôi hiểu ra rồi, vợ của mấy ông quan, thường thì Đức Thầy kêu theo nhà quan, tên của người nữ tín đồ là Triệu thị Vạng đã quy y và thân thiện nghĩa Thầy trò nhưng gọi tên hay viết bài tặng để tu học thì Đức Thầy cũng dùng là bà Ký Giỏi. Bà Nguyễn thị Anh, có chồng làm Cò, bà thứ năm, kêu bà là bà Năm Cò, nghĩ đâu có gì là lạ!

Bà Năm Cò đã có công rất lớn trong việc giải cứu Đức Thầy bởi hay tin phe Trần văn Giàu bày thủ đoạn ám hại Đức Thầy, bà cộng tác với Ông Lâm Ngọc Thạch, tìm cách giải vây cho Đức Thầy từ đường Miche về chiến khu miền đông. Theo tường thuật của Ông Lâm Ngọc Thạch: 

“Sau đó tôi về đường Farinolles là nhà của một nữ đồng đạo tên là Bà Năm Cò. May thay, tại đây tôi gặp được cô năm Tournier là một nữ đồng đạo chủ nhân căn nhà 38 đường Miche, giáp với phía sau căn căn nhà số 8 đường Sohier. Cô năm Tournier báo tin mật: Đức Thầy hiện còn tại  nhà của cô, và cô ra đây để báo tin cho anh em tìm cách đưa Đức Thầy ra khỏi vòng vây.”

Ông Lâm Ngọc Thạch đến trụ sở hiến binh Nhựt mượn xe, được xe nhưng không có người tài xế… trích tường thuật tiếp:

“Tôi cần có một người tài xế để dễ bề đối phó khi bị chặn đường, và bà Năm Cò đã sốt sắn giao đứa con trai duy nhất mà bà rất cưng (tạm gọi là anh Hai) đi làm nhiệm vụ nguy hiểm đó. Tôi nhận thấy đây là một cử chỉ hy sinh đáng kể của bà, vì bà chỉ có đứa con mà thôi, mạo hiểm đi làm công tác nầy thiệt là nguy hiểm, vì xông vào vòng vây địch, có thể bị bắt, hay bị xả súng bắn chết như không”.(trích quyển PGHH Trong Dòng Lịch Sử Dân Tộc)

Đọc đoạn trích dẫn trên ta thấy Bà Năm Cò rất vĩ đại còn mình thì quá nhỏ bé, một người có ơn chịu tiếp cái khổ bằng giải vây cho Đức Thầy ra khỏi đường Miche, không nề hà chuyện bị tù tội hay bị bắn chết trong khi bà chỉ có đứa con trai. Tôi tự trách: Vị tiền bối có công như vậy mà sao tới giờ nầy mình mới đi điếu viếng thâm ân?

Chúng tôi lễ kính xong ba ngôi mộ đáng được vinh danh, cùng nhau chụp hình làm kỹ niệm.

 

21/1/2017

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
18 Tháng Ba 20189:49 CH(Xem: 280)
Châu Lang: Quyển Kim Cổ Kỳ Quan là phẩm kinh chín bổn được Ông Ba Nguyễn Văn Thới sáng tác, chia thành hai đợt trong vòng 12 năm, (từ 1907 đến 1919) viết cách nay trên dưới 100 năm.
30 Tháng Giêng 201810:21 SA(Xem: 425)
Nguyễn Văn Lía: Xưa Đức Phật từng bảo : “Nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật Tánh”. Nghĩa là tất cả chúng sanh đều có tánh Phật. Hiểu như thế nên có người hỏi: Như vậy tại sao chúng sanh chẳng thành Phật ?
27 Tháng Giêng 201811:16 CH(Xem: 420)
Nguyễn Văn Nhựt: Mái Đạo Tràng thay cho ngôi trường nhỏ Chùa Quang Minh nương náu học bao ngày Nhân Nhà Gíao bày hoài niệm vắn dài Bao kỷ niệm ùa về ôi nhớ quá!
27 Tháng Giêng 20187:24 SA(Xem: 644)
Lê Minh Triết: Gần ngót một thế kỷ trôi qua, ngày 25 tháng 11 năm Kỷ Mùi 1919, tại làng Hòa Hảo, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc, bổng xuất hiện một vị Phật từ Phật quốc lâm phàm, thế danh Ngài là Huỳnh Phú Sổ, thân sinh của Ngài là Đức Ông Huỳnh Công Bộ và Đức Bà Lê Thị Nhậm.
14 Tháng Chín 201711:45 SA(Xem: 1119)
Một tấm lòng thành quyện khói hương, Đưa hồn ông đến cõi Tây Phương. Phân ly hai nẽo đường sanh tử, Để lại trần gian vạn tiếc thương.
27 Tháng Tám 20176:01 CH(Xem: 2044)
Hiện nay Bửu Sơn Kỳ Hương vẫn còn tồn tại được bốn di tích của Đức Phật Thầy Tây An ở Miền Tây Nam Việt. Đó là: Tây An Cổ Tự ở làng Long Kiến, trại ruộng Thới Sơn ở Nhà Bàn, trại ruộng ở Láng Linh Châu Đốc và chùa Tây An ở núi Sam.
15 Tháng Tám 20179:48 CH(Xem: 1274)
Hằng năm cứ đến ngày trăng tròn tháng 7 âm lịch thì người Phật tử khắp nơi lại hân hoan tổ chức đại lễ Vu Lan, hay còn gọi là mùa “Báo ơn Cha Mẹ”.
29 Tháng Sáu 20175:37 CH(Xem: 1913)
Tin TẤn: PHẬT xuất Miền Nam nước Việt Nam, GIÁO dân quyết vượt họa xâm lăng. HÒA tâm dắt chúng rời đời huyễn, HẢO ý dìu người đến cõi chân.
27 Tháng Sáu 20179:49 CH(Xem: 1904)
Nguyễn Văn Lía: Nói đến nhân quả, người tín đồ đạo Phật hiểu ngay đến luật trả vay, vay trả của thế trần. Vì vậy những ngôn ngữ được bàn bạc qua tâm tư trí não của họ, như: “ở hiền gặp lành”, “gieo gió gặt bão”, “ghét cái nào trời trao cái nấy”
27 Tháng Sáu 20179:37 CH(Xem: 1530)
Trang Văn Mến:Ngược dòng thời gian , cách nay cũng gần trăm năm, Đức Thầy giáng trần ngày 15/01/1920 nhầm ngày 25 tháng 11 năm Kỷ Mùi tại làng Hoà Hảo , quận Tân Châu , tỉnh Châu Đốc , một tỉnh thuộc miền Nam nước Việt .