BỐN DI TÍCH QUAN TRỌNG CỦA ĐỨC PHẬT THẦY TÂY AN

27 Tháng Tám 20176:01 CH(Xem: 5723)
BỐN DI TÍCH QUAN TRỌNG CỦA ĐỨC PHẬT THẦY TÂY AN
DUC PHAT THAY TRI BENH DICH TA
Hình 1:  Đức Phật Thầy đang trị bệnh dịch tả tại làng Tòng Sơn

Nguyễn Huỳnh Mai

            Phật Thầy Tây An, vị Giáo tổ khai sáng tông phái Phật Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, đản sanh năm 1807, tức năm Gia Long thứ 8, khai đạo năm 1849, viên tịch năm Bính Thìn1856.

 

            Đức Phật Thầy tục danh là Đoàn Minh Huyên quê quán ở làng Tòng Sơn, thuộc tổng An Tịnh, huyện Vĩnh An, phủ Định Viễn, trấn Vĩnh Thành, thuộc địa phận Gia Định thành. Sau này làng Tòng Sơn thành xã Mỹ An Hưng, quận Lấp Vò, tỉnh Sa Đéc, trên quốc lộ từ Cái-Tàu-Thượng đi Bắc Mỹ Thuận.

 

            Đức Phật Thầy đã đi khắp các tỉnh Gò Công, Bến Tre, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Rạch Giá, An Giang, và lên dãy núi Thất Sơn, với mục đích tìm hiểu về cuộc sống của con người và xã hội tại các tỉnh Hậu Giang. Năm 1849, Ngài trở lại quê nhà nhằm lúc nạn dịch tả hoành hành dữ dội. Đức Phật Thầy đã cứu bệnh và khuyến tu, đồng thời hòa mình vào cuộc sống thôn dã với nông dân để an ủi, nâng đỡ, dạy dỗ và hướng dẫn họ.

 

            Để cho có chỗ thờ Phật và làm nơi phát phù trị bịnh, Đức Phật Thầy đi đến đâu cũng hay dựng lên cái cốc và trại ruộng.  Mặc dù là một cái cốc nhỏ, Ngài vẫn trang trí đầy đủ nơi thờ phượng, song có điều, thay vì thờ tượng cốt, Ngài cho thờ đơn giản một tấm trần điều, trên bàn thờ có nhang đèn, hoa tươi và nước lạnh, đúng theo giáo pháp vô vi của Đức Phật Thích Ca. Với danh từ trại ruộng, mặc dù ở đó có thờ ngôi Tam bảo như các chùa, người tín đồ của Ngài vẫn luôn nhớ đến bổn phận của mình, trong lúc tu hành vẫn phải làm ruộng rẫy để sinh sống. Như thế hiển thị pháp môn tu Nhân học Phật.

 

            Hiện nay Bửu Sơn Kỳ Hương vẫn còn tồn tại được bốn di tích của Đức Phật Thầy Tây An ở Miền Tây Nam Việt. Đó là: Tây An Cổ Tự ở làng Long Kiến, trại ruộng Thới Sơn ở Nhà Bàn, trại ruộng ở Láng Linh Châu Đốc và  chùa Tây An ở núi Sam.

 

            Bấy nhiêu di tích cũng đủ ghi lại công đức của Đức Phật Thầy, vì dầu trải qua bao nhiêu cuộc biến thiên, những nơi này đã không phai mờ theo thời gian, mà mỗi ngày được tu chỉnh thêm uy nghiêm, nêu cao tinh thần sùng ngưỡng đạo đức.

 

            1-CHÙA TÂY AN CỔ TỰ Ở LONG KIẾN, AN GIANG
Tay An Co Tu (Photo Kien Truc Viet Nam)

Hình 2: Tây An Cổ Tự xưa là cốc Ông Kiến, tại làng Long Kiến An Giang (ảnh Kiến Trúc Việt Nam)

 

 

Tây An Cổ tự ở Long Kiến, nay thuộc xã Long Giang, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, trước kia là Cốc của ông Đạo Kiến. Chính nơi đây Đức Phật Thầy chỉ dạy cách thờ phượng lễ bái cùng cách thức tu hành cho môn nhơn đệ tử. Điều đặc biệt hơn hết, tấm trần điều được thờ lên nơi ngôi Tam bảo thay thế cho tượng Phật đầu tiên là ở ngôi cổ tự này.

 

            Vào năm Bính Thìn (1856), trước khi tịch bảy ngày, Đức Phật Thầy cho phép đặt tên cho cốc ông Kiến là Tây An tự, nhưng về sau người ta gọi ngôi chùa ở Long Kiến là Tây An Cổ tự .

 

            Vị đệ tử được Đức Phật Thầy sai đi đặt tên chùa có mang theo bốn cây dầu con, đem trồng trước chùa một cây định làm cột phướn, còn ba cây thì trồng ở phía sau chùa.

 

            Năm 1918 cây dầu ở trước chùa bị đốn để làm cầu và cất trường học. Đến năm Đinh Mão (1927), chùa bị phát hỏa làm cho ba cây dầu trồng ở phía sau chùa đều bị cháy nên chết hết.

 

            Cây dầu trồng trước chùa bị chặt hồi năm Mậu Ngủ (1918) đến năm Mậu Dần (1938) nghĩa là hai chục năm sau, cái gốc này tuy đã mục nhưng lại đâm lên một cái chồi. Sau cơn hỏa hoạn, chùa được dời qua mảnh đất kế cận. Qua năm sau 1939, khi Đức Huỳnh Giáo Chủ khai sáng Phật Giáo Hòa Hảo, Ngài đã cho phép cất sửa chùa trở về chỗ cũ.

 

            Đây là một việc hy hữu nên ngoài việc quí trọng người ta còn sùng ngưỡng cây dầu mới mọc nữa, bởi việc này ứng với lời tiên tri của Đức Phật Thầy Tây An trước kia, ở câu:

 

Chừng nào gốc mục lên chồi,

Ta vưng sắc lịnh tái hồi trần gian.

 

            Vì thế, mỗi khi đến viếng chùa, khách thập phương đều đến chiêm ngưỡng cây dầu mọc lại ở sau cột phướn, xem như một điềm lành, một kỳ tích. Ngoài ra chùa này còn lưu giữ được những bảo vật như mớ tóc của Đức Phật Thầy, một cây quạt lông và ba tàn thuốc lá. Đó là nhờ những người cảm tử xông vào lấy kịp khi chùa bị phát hỏa năm 1927.

 

            Tây An Cổ tự được xem như cổ nhứt và còn giữ được cách thờ phượng đúng với chơn truyền của Đức Phật Thầy, nghĩa là thờ trần điều, tượng trưng cho tinh thần vô vi và lòng bác ái đối với tất cả chúng sanh.

 

            2-TRẠI RUỘNG Ở THỚI SƠN, AN GIANG
KY VAT BAT ONG NAM CHEO

Hình 3: Di vật của Đức Phật Thầy để lại cho ông Đình Tây tại chùa Thới Sơn (ảnh Vinh Thông)

 

            Vì muốn tránh sự dòm ngó của nhà cầm quyền lúc bấy giờ, Đức Phật Thầy Tây An vào vùng Thất Sơn nơi hoang vắng, địa thế hiểm trở để lập trại ruộng trong  khu vực núi Két, thuộc xã Thới Sơn, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang, Việt Nam. Thuở xưa muốn vào được nơi đây phải đi theo con đường quanh co trong rừng từ Núi Sam vào Nhà Bàn khoảng 10 cây số.

            Sau khi Đức Phật Thầy cứu dân độ bịnh và hướng dẫn tín đồ tu hành, phát rẫy làm ruộng và trồng các loại cây ăn trái, thì dần dần dân nghèo kéo đến sanh sống. Ngài hướng dẫn dân khai hoang lập làng. Làng Hưng Thới và Xuân Sơn sau này thành xã Thới Sơn. Nơi đây Ngài đã cho dựng đình Thới Sơn để thờ Thành Hoàng Bổn Cảnh, là vị thần chủ quản vùng đất mà họ đến khai phá. Ngoài các nông cụ, Đức Phật Thầy có nuôi hai con trâu mà người ta thường gọi là ông Sấm và ông Sét vì chỉ nghe theo lệnh của Ngài. Trước sân chùa khoảng năm bảy chục mét có cây lâm vồ, tương truyền do Ngài trồng.

            Thới Sơn nằm trong hệ thống dãy núi Thất Sơn, chung quanh bao bọc bởi nhiều ngọn núi cao, cảnh vật  thanh vắng, rất tiện lợi cho các môn đệ của Đức Phật Thầy tu tập. Nơi đây quy tụ hàng đại đệ tử của Ngài như anh em ông Đình Tây, ông Đạo Lập, ông Đạo Xuyến vân vân.

            Đức Phật Thầy không ở nơi đây thường trực, Ngài giao mọi việc cho anh em ông Đình Tây coi sóc. Sau khi anh em ông Đình Tây qua đời, trại ruộng được tu bổ và mở rộng quy mô thành một cảnh chùa. Phía trước có đào ao sen và trồng một hàng dương.

            Trong chùa Thới Sơn nơi chánh điện có bàn thờ Tam Bảo và hậu điện có bàn thờ Đức Phật Thầy Tây An. Trên cả hai bàn thờ đều không có các hình tượng, mà chỉ có một bức Trần điều lớn màu đỏ. Phía trước sân chùa, có 3 ngôi miễu nhỏ thờ Vinh thần, Tả và Hữu ngoại Sơn thần; theo mô hình "trước miễu sau chùa" thường thấy ở các ngôi chùa của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương.

            Chùa Thới Sơn còn có lưu giữ một mớ tóc và các dụng cụ như lưỡi mun, lưỡi câu, sợi dây, và 2 cây độc để cho ông Đình Tây trị ông “Năm Chèo” tức con cá sấu năm chân mà ông đã nuôi bị thoát chuồng.

            Ngày nay khách thập phương sau khi lễ bái chùa Thới Sơn và chùa Phước Điền tục gọi là Trại Ruộng, đều thăm viếng mộ ông Đình Tây và ông Tăng Chủ, anh của ông ở gần chùa.

            Hằng năm, vào ngày 14 và 15 tháng Giêng âm lịch, chùa Thới Sơn đều có tổ chức lễ cúng Tam bảo và Đức Phật Thầy, cũng như cầu an cho năm mới rất long trọng, thu hút nhiều tín đồ và khách thập phương đến tham dự.

3-TRẠI RUỘNG Ở LÁNG LINH, CHÂU ĐỐC



            Láng Linh ở giữa khu tứ giác của bốn quận Châu Phú, Tịnh Biên, Tri Tôn và Châu Thành thuộc về làng Thạnh Mỹ Tây, tỉnh Châu đốc, cách sông Hậu giang gần 10 cây số ngàn, từ kinh xáng Vịnh Tre đi vô.

 

LONG PHAI BUU SON KY HUONG

Hình 4 : Lòng phái có in 4 chữ Bửu Sơn Kỳ Hương

 

            Đức Phật Thầy có lập một trại ruộng bằng tre lá giống như ở Thới Sơn theo đúng giáo pháp vô vi của Ngài, tức cũng thờ trần đỏ, không có tượng cốt. Ngài đặt hiệu cho trại ruộng nầy là Bửu-Hương-Các, nêu tên giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương do Ngài khai thị.

 

            Cách chùa 8 cây số, ra hướng kinh xáng Vịnh Tre, xã Vĩnh Thạnh Trung, có dinh Ông Thẻ nhà Láng. Đây là một cây thẻ trong bốn cây thẻ mà Đức Phật Thầy cho trồng xung quanh vùng Thất sơn.  

 

            Cũng như ở trại ruộng Thới Sơn, nơi đây Đức Phật Thầy đã trị cho nhiều người thoát khỏi những căn bệnh hiểm nghèo và Ngài dạy cho người lành bệnh biết lo niệm Phật  tu hành.  Mỗi khi có người xin qui y học đạo thì Ngài phát cho một lòng phái trong đó có bốn chữ “Bửu Sơn Kỳ Hương”. Mỗi tín đồ đều cất giữ rất kỹ, không trao cho bất kỳ ai.

 

            Đức Phật Thầy thường hay đi đó đây cứu nhân độ thế nên Ngài giao phó trại ruộng này cho Đức Cố Quản Trần Văn Thành, một đại đệ tử của Ngài coi sóc. Dưới thời vua Thiệu Trị và Tự Đức, vị đệ tử này đã làm đến chức Quản Cơ. Ông đã cầm quân đánh tan giặc Miên ra khỏi biên thùy và lập nhiều chiến công hiển hách.

 

            Sau khi quy y với Đức Phật Thầy, Đức Cố Quản đã bỏ sự nghiệp đem gia đình về núi Doi, phá rừng dựng nên làng Hưng Thới. Ông đã được Đức Phật Thầy giao cho trọng trách đi cắm 4 cây thẻ quanh vùng Thất Sơn để trấn những cột ếm của người Tàu, và giữ trại ruộng Bửu Hương Các.

            Vào thời Pháp thuộc, Quản Cơ cùng các tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương đang khai hoang trại ruộng Láng Linh thì rút vào rừng Bảy Thưa, thành lập căn cứ kháng chiến, bộ chỉ huy lấy tên là Binh Gia Nghị đặt tại đồn Hưng Trung, nay thuộc xã Đào Hữu Cảnh, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

 

            Sau khi ông bà Cố Quản mất, con là cậu Hai Trần văn Nhu đứng ra cất Bửu Hương Tự, cách Bửu Hương Các 200 thước, bằng cách bán vòng vàng của bà Cố Quản để lại và một chiếc ghe sáu bổ lịch sử với giá 300 đồng. Ghe này thuộc loại ghe độc mộc (chỉ một cây sao lớn, khoét ruột rồi thành ghe, be ghe dầy khoảng 7 phân tây, có 6 cột chèo. Có mui lớn được chạm trổ hết sức cổ kính). Tương truyền Đức Phật Thầy thường đàm đạo trên ghe này với Đức Cố Quản. Về sau tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương đã chuộc ghe lại và cất chùa Bửu Sơn Tự hay còn được gọi là chùa Ghe Sáu tại ấp Long Hạ xã Kiến An, huyện Chợ Mới tỉnh An Giang để thờ chiếc ghe này.

 

            Năm 1912, Cậu Hai bị vu cáo mưu phản nên bị nhà cầm quyền tỉnh Châu Đốc bao vây Bửu Hương Tự. Cậu Hai thoát khỏi nhưng 56 người đến chùa lễ bái bị bắt bỏ tù.

 

            Mãi đến năm 1941, Bửu Hương Các, và năm 1942 đến Bửu Hương Tự, được ông Nguyễn Văn Tịnh, đệ tử cậu Hai trùng tu chấn chỉnh, nhưng năm 1948 cả hai chùa đều bị chiến tranh tàn phá.

            Mặc dầu bị mất hai người con vì binh biến, ông Tịnh cũng cố công dựng lại hai kiểng chùa để có nơi cho thiện nam tín nữ đến lễ bái như ngày nay.

 

            4-CHÙA TÂY AN Ở NÚI SAM, AN GIANG
Tay An Co Tu (Photo Kien Truc Viet Nam)

Hình 5: Chùa Tây An ở núi Sam (ảnh Đào Nguyên Bùi Thụy) 



            Di tích thứ tư quan trọng của Phật giáo Bửu Sơn Kỳ Hương là chùa Tây An tại An Giang. Nơi đây có ngôi mộ khỏa bằng mặt đất, không đắp nắm, hay tháp của Đức Phật Thầy Tây An nằm khiêm tốn phía sau chùa.

            Tây An tự tọa lạc tại ngã ba dưới chân núi Sam, xã Vĩnh Tế, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang. Chùa trông rất đồ sộ, màu sắc lộng lẫy mang nét kiến trúc Ấn Hồi với vòm tháp cao hình dáng “chóp củ hành” phía trước chùa.

            Chùa lợp mái ngói cong. Ở cửa giữa có tượng Quan Âm Thị Kính. Bên trong chùa có nhiều bàn thờ với trên 100 tượng Phật và các vị La Hán bằng gỗ được chạm khắc rất công phu sống động.

            Bên phải chùa là khu mộ tháp cao của chư tôn hòa thượng phái Lâm Tế trụ trì qua nhiều thời gian. Phía sau là ngôi mộ Đức Phật Thầy được xây cất mặt phẳng theo di giáo của Đức Phật Thầy. Tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương và Phật giáo Hòa Hảo thường xuyên đến ngôi mộ này cúng bái cầu nguyện đông đảo, nhất là vào những ngày Đản Sinh hay ngày Vía của Đức Phật Thầy.

            Năm 1820, Tổng Đốc Nguyễn Nhật An, một vị quan triều Nguyễn đời Minh Mạng đã xây dựng chùa Tây An bằng tre theo lời nguyện của ông sau khi thành công dẹp được giặc Miên nơi biên giới. Ông thỉnh vị sư đầu tiên là Hòa Thượng Nguyễn Văn Giác, pháp hiệu Hải Tịnh, tu theo phái Lâm Tế về trụ trì. Năm 1847, Tổng đốc An Hà là Doãn Uẩn, sau khi lập đại công đánh đuổi quân Xiêm La, bình định Chân Lạp, đã xây dựng lại ngôi chùa bằng tường gạch với mái ngói.

            Cũng vào thời gian này bệnh dịch lan tràn dữ dội, người chết không kịp chôn, Đức Phật Thầy đang ở Trà Bư trị bệnh, sau đó Ngài đến Xẻo Môn nay là làng Long Kiến vừa chữa bệnh, thuyết pháp, khuyến tu, phát lòng phái có 4 chữ Bửu Sơn Kỳ Hương in trên giấy đỏ cho những người quy y. Ngài chỉ dùng bông hoa, nước lã, bao nhang hay giấy vàng mà chữa lành nhiều bệnh ngặt nghèo thập tử nhất sanh.

            Tiếng đồn vang như nước triều dâng và người đến chữa bệnh đông như kiến cỏ, đã khiến những kẻ dối tu đem lòng ganh tị phao truyền Ngài là gian đạo sĩ, nên quan Trấn An Giang câu lưu giam giữ Ngài và đưa ra nhiều thử thách. Ngài đã khiến các quan chức khâm phục và nhiều vị đã quy y với Ngài.

            Khi nhận được chiếu chỉ của Triều đình công nhận Ngài là một vị chân tu, Đức Phật Thầy phải xuống tóc vào tu tại chùa Tây An. Chùa này có gõ mõ tụng kinh và thờ nhiều tượng cốt, khác với chủ trương của Bửu Sơn Kỳ Hương là thờ Trần đỏ, bông hoa và nước lạnh với nhang đèn mà thôi.

            Đức Phật Thầy được quý hòa thượng ở chùa rất quý mến khâm phục cốt cách đạo đức và lòng từ bi chăm sóc thương mến những bệnh nhân đến chùa trị bệnh. Tuy ở chùa, nhưng Ngài thường xuyên hướng dẫn các đại đệ tử Bửu Sơn Kỳ Hương đi nhiều nơi, mở rộng sự truyền giáo, phát lòng phái Bửu Sơn Kỳ Hương. Ngài phân chia tín đồ thành bốn đoàn đi khai hoang lập ấp ở chốn rừng rậm như Thới Sơn hay nơi bùn lầy nước ngập mênh mông như Láng Linh vân vân.

TINH THẦN CỦA GIÁO LÝ TỨ ÂN VẪN CÒN MÃI

            Ngày nay, nếu có ai đến viếng những di tích của Đức Phật Thầy, sẽ nhân thấy rằng những nơi mà xưa kia là rừng rậm hoang vu đầy thú dữ, hoặc những chỗ bùn lầy nước đọng, mùa nước lụt thì mênh mông như biển, mùa hạn hán thì như bãi cát hoang, nay đã thay vào đó là ruộng lúa phì nhiêu, vườn cây nặng trĩu trái, hoặc chợ búa, phố xá sầm uất, nhiều sông rạch đem nước ngọt đến ruộng vườn, và giúp cho sự lưu thông bằng ghe xuồng của người dân khắp nơi.

            Mảnh đất miền Tây Nam Việt với dòng Cửu Long Giang bên cạnh dãy Thất sơn hùng vĩ, nơi địa linh nhân kiệt, đã phát sinh những vị hoạt Phật từ Đức Phật Thầy Tây An cùng các vị kế truyền như Đức Phật Trùm, Đức Bổn Sư, Đức Sư Vãi Bán Khoai và gần đây nhất là Đức Huỳnh Giáo Chủ cùng các vị đại đệ tử anh hùng hy sinh cho tổ quốc như Đức Cố Quản Trần Văn Thành, Đại Thần Nguyễn Trung Trực, vân vân.

            Qua bao thăng trầm của lịch sử, những câu kinh giảng mang đậm giáo lý Tứ ân, đã luôn vang lên tinh thần đạo đức, nhân ái, sự hiếu thão với ông bà cha mẹ, tình yêu nước yêu dân, yêu đồng bào nhân loại, cố giữ yên bờ cõi trước giặc ngoại xâm, khiến cho Miền Tây Nam Việt vẫn còn giữ được mảnh đất phì nhiêu, người dân mộc mạc hiếu hòa như ngày nào các vị hoạt Phật đã ban rải tình thương không bờ bến.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Dật Sĩ và Nguyễn Văn Hầu: Thất Sơn Mầu Nhiệm (1955)
Hà Tân Dân biên soạn: Tứ Ân Hiếu Nghĩa (1971)

Nguyễn Long Thành Nam: Phật Giáo Hòa Hảo Trong Lòng Lịch Sử Dân Tộc (1991).
Nguyễn Văn Hầu: Nửa Tháng Trong Miền Thất Sơn (1970); Đức Cố Quản hay Cuộc Khởi Nghĩa Bảy Thưa (1956); Sấm Truyền Đức Phật Thầy Tây An (1973).
Nguyễn Văn Hầu và Nguyễn Hữu Hiệp: Tiền Giảng Đức Phật Thầy Tây An (1974).
Vương Kim: Bửu Sơn Kỳ Hương (1957).

Vương Kim và Đào Hưng: Đức Phật Thầy Tây An (1954).
Các trang webs: Wikipedia tiếng Việt; thesaigontimes.vn; vanhoalichsuangiang.blogspot.com; vusta.vn; angiang.edu.vn; quangduc.com; phatgiaohoahao.net; hoahao.org; tuoitrephatgiaohoahao.com;
xahoi.com; hoahaole.blogspot.com; bskhnguyenthuy.blogspot.com.

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
24 Tháng Tám 20182:07 SA(Xem: 216)
Hằng năm cứ mỗi độ thu về, mọi người đều háo hức đón chào ngày lễ “Vu Lan Bồn”, noi theo sự tích Mục Kiền Liên cứu Mẹ.
23 Tháng Sáu 20185:36 SA(Xem: 466)
Ngày 18 tháng 5 âl là ngày tràn ngập niềm vui, là ngày hằng triệu tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo cùng hòa nhịp con tim, hàng hàng lớp lớp lũ lượt về Thành Đô Đạo Đức. Đó là Thánh Địa Hòa Hảo (sảnh đường Kim Sơn Phật),
04 Tháng Sáu 20182:31 CH(Xem: 791)
Theo thầy Tâm Thành trong ngũ ấm chỉ có sắc ấm là có hình tướng và có giới hạn, còn thọ ấm, tưởng ấm, hành ấm và thức ấm không có hình tướng và không có giới hạn.
18 Tháng Ba 20189:49 CH(Xem: 1630)
Châu Lang: Quyển Kim Cổ Kỳ Quan là phẩm kinh chín bổn được Ông Ba Nguyễn Văn Thới sáng tác, chia thành hai đợt trong vòng 12 năm, (từ 1907 đến 1919) viết cách nay trên dưới 100 năm.
30 Tháng Giêng 201810:21 SA(Xem: 1214)
Nguyễn Văn Lía: Xưa Đức Phật từng bảo : “Nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật Tánh”. Nghĩa là tất cả chúng sanh đều có tánh Phật. Hiểu như thế nên có người hỏi: Như vậy tại sao chúng sanh chẳng thành Phật ?
27 Tháng Giêng 201811:16 CH(Xem: 1053)
Nguyễn Văn Nhựt: Mái Đạo Tràng thay cho ngôi trường nhỏ Chùa Quang Minh nương náu học bao ngày Nhân Nhà Gíao bày hoài niệm vắn dài Bao kỷ niệm ùa về ôi nhớ quá!
27 Tháng Giêng 20187:24 SA(Xem: 1679)
Lê Minh Triết: Gần ngót một thế kỷ trôi qua, ngày 25 tháng 11 năm Kỷ Mùi 1919, tại làng Hòa Hảo, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc, bổng xuất hiện một vị Phật từ Phật quốc lâm phàm, thế danh Ngài là Huỳnh Phú Sổ, thân sinh của Ngài là Đức Ông Huỳnh Công Bộ và Đức Bà Lê Thị Nhậm.
14 Tháng Chín 201711:45 SA(Xem: 2100)
Một tấm lòng thành quyện khói hương, Đưa hồn ông đến cõi Tây Phương. Phân ly hai nẽo đường sanh tử, Để lại trần gian vạn tiếc thương.
15 Tháng Tám 20179:48 CH(Xem: 2068)
Hằng năm cứ đến ngày trăng tròn tháng 7 âm lịch thì người Phật tử khắp nơi lại hân hoan tổ chức đại lễ Vu Lan, hay còn gọi là mùa “Báo ơn Cha Mẹ”.
29 Tháng Sáu 20175:37 CH(Xem: 2822)
Tin TẤn: PHẬT xuất Miền Nam nước Việt Nam, GIÁO dân quyết vượt họa xâm lăng. HÒA tâm dắt chúng rời đời huyễn, HẢO ý dìu người đến cõi chân.
430,518